Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

Cửa

Một cái cửa vào ra
thì nên hẹp
và luôn khép kín.
Khi người ta đã bước qua
dù là vào hay ra
Đầu không bao giờ
ngoảnh lại.

***

Một cái cửa sổ
phải luôn rộng mở.
Để thấy tận trời xanh
và đón gió long lanh.
Mang theo
hương hoa thầm thì
cùng tiếng chim trong trẻo.

***

Mọi trường hợp khác đều là ngoại lệ.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

Đời nhẹ khôn kham

Ngồi buồn đốt một đống rơm
Khói ra nghi ngút chẳng thơm chút nào
Khói bay lên tận thiên tào
Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm?



Đời nhẹ khôn kham.
Đời nhẹ khôn kham.

Đời nhẹ khôn kham. Milan Kundera.

Thoạt tiên mình cảm thấy rất thích cái tựa này. Nghe triết triết thơ thơ.

Đã triết lại còn thơ! Triết như một cái thân cây to lớn vững chắc xám xịt và Thơ là tán lá xanh um líu lo chim hót.

Nhưng rồi mình lại lẩn thẩn.

Đời nhẹ như là đối lập đời nặng ư? Con người ta có thể có hai cuộc đời, một nặng một nhẹ? Hay chỉ được phép chọn một, đời nặng thì thôi nhẹ mà đời nhẹ thời khỏi nặng?

Thực ra có chút mâu thuẫn (trước hết là về mặt ngôn ngữ), so với nguyên bản.

Nesnesitelná lehkost bytí. Được dịch ra tiếng Anh là The Unbearable Lightness of Being.

Nôm na là cái (sự) nhẹ không kham nổi của đời. Gốc nhẹ là danh từ, đời bổ nghĩa cho nhẹ. Dịch ra tiếng Việt, đời lại là danh từ mà nhẹ là tính từ bổ nghĩa cho đời. (Đúng không ấy nhỉ?!)

Về ngôn ngữ có trái ngược nhau mà nói ngữ nghĩa giống nhau thì có thuận?

Rồi mình lại vẩn vơ.

Cái sự nhẹ mà đã không kham nổi thì sự nặng sẽ ra sao? Hay đã có sự nhẹ rồi thời sự nặng không còn nữa?

Người bảo, ngươi đời nhẹ khôn kham thời ta đời nặng như chì thì sao?

Nghĩ, sự nặng (của đời) đè con người ta ghê gớm lắm, đè đến ngóc đầu không lên nổi. Còn biết đâu đến sự nhẹ mà kham với chả khôn kham?

Hình như không phải vậy.

Người đời thường nhẫn nhục dưới gánh nặng. Đến độ cúi đầu. Nhưng dưới chân là mặt đất. Cúi mặt thấy đất. Đất lại nâng lên.

Cái sự nhẹ thảng hoặc có sượt qua. Mấy ai để ý?
Ít người dính với cái nhẹ rồi, mới biết đời khôn kham là vậy. Lơ lửng lửng lơ. Không điểm tựa. Không nơi bấu víu.

Nhưng bay bổng ...


Mình chẳng dám rườm lời.
Chép ra đây một đoạn nguyên bản để nhớ.
Xin lỗi những ai không đọc được, vì mình chả dám dịch. Có thể tham khảo các bản khác, Chương 2 Phần Một (phần này có tên Nhẹ và Nặng).



PRVNÍ ČÁST
Lehkost a tíha

...

2.
Bude-li se každá Vteřina našeho života nekonečněkrát opakovat, jsme přikováni k věčnosti jak Ježíš Kristus ke kříží. Taková představa je hrozná. Ve světě věčného návratu leží na každém gestu tíha nesnesitelné odpovědnosti. To je důvod, proč Nietzsche nazýval myšlenku věčného návratu nejtěžším břemenem (das schwerste Gewicht).
Je-li věčný návrat nejtěžším břemenem, pak se mohou naše životy jevit na jeho pozadí ve vší nádherné lehkosti.
Ale je tíha opravdu hrozná a lehkost nádherná? Nejtěžší břemeno nás drtí, klesáme pod nim, tiskne nás k zemi. Ale v milostné poezii všech věků žena touží být zatížena břemenem mužova těla. Nejtěžší břemeno je tedy zároveň obrazem nejintenzivnějšího naplnění života. Čím je břemeno těžší, tím je náš život blíž zemi, tím je skutečnější a pravdivější.
Naproti tomu absolutní nepřítomnost břemene způsobuje, že se člověk stává lehčí než vzduch, vzlétá do výše, vzdaluje se zemí, pozemskému bytí, stává se jen napůl skutečný a jeho pohyby jsou stejně svobodné jako bezvýznamné.
Co si tedy máme zvolit? Tíhu nebo lehkost?
Tuto otázku si kladl Parmenides v šestém století před Kristem. Viděl celý svět rozdělen na dvojice protikladu: světlo - tma; jemnost - hrubost; teplo - chlad; bytí - nebytí. Jeden pól protikladu byl pro něho pozitivní (světlo, teplo, jemnost, bytí), druhý negativní. Takové dělení na pozitivní a negativní pól nám může připadat dětinsky snadné. Až najeden případ: co je pozitivní, tíha nebo lehkost?
Parmenides odpověděl: lehkost je pozitivní, tíha je negativní.
Měl pravdu či ne? To je otázka. Jisté je jen jedno: protiklad tíha - lehkost je nejtajemnější a nejmnohovýznamnější ze všech protikladů.



Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Biển Đông dậy sóng
Trường Sơn trọc đầu
Tài nguyên chảy máu
Dân tộc thương đau
...

Cờ tướng

Một ông tướng lác đứng trong cung
Sĩ tượng khoanh tay, chẳng vẫy vùng
Pháo dở hai cây nằm dưới góc
Tốt đau năm chú đứng bên sông
Lờ khờ cặp ngựa đi tam cố
Lạc xạc đôi xe chạy tứ tung
Đương cuộc ai xui mê đến thế
Họa là tiên xuống giúp cho cùng.
(PCT)


- Posted using BlogPress from my iPad

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Quân duyên hà sự vong ôn bão
Ngã diệc do nhân mạn ứng thù.
(PCT)


- Posted using BlogPress from my iPad

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Đọc Mười ngày ở Huế



Chiều Chúa Nhật, đọc một mạch hết Mười ngày ở Huế của cụ Phạm Thượng Chi.

Kể như mình cũng trải qua hơn 7 năm tuổi niên thiếu ở Huế. Nhưng nói ra thì thật hời hợt.
Đọc tiền nhân chỉ biết xấu hổ mà thú rằng: nước ta, từ đầu thế kỷ trước đến giờ, chỉ có thoái mà không có tiến. Vốn ý này ẩn sẵn trong lời cụ Phạm, khi cụ viết những dòng vào những năm đầu triều Khải Định (1918).

Nội mỗi chuyện tàu xe từ Hà Nội vào đến Huế thời ấy đã ăn đứt thời này, sau gần một thế kỷ. Chưa nói đến quãng khốn khổ thời mình ở Huế.
Không hiểu sao cứ tưởng tượng cảnh cụ Phạm du hành cùng cụ Phan (Chương Dân), mình chắc phải thú vị lắm. Rồi lại liên tưởng chuyến đi của các cụ Phan (Châu Trinh), Huỳnh (Thúc Kháng), Trần (Quý Cáp), khi các trí tuệ như thế gần nhạu.

C ụ Phạm đi Huế tuy tiếng là thăm thú nhưng thực là chứng kiến lễ Nam Giao. Dĩ nhiên, thời ấy còn chưa là những bát nháo của cái gọi là fe stival của những ngày nay. Ngày ấy còn là Lễ, và cái đẹp của Chân. Đức của người Huế thời ấy, lời cụ Phạm, vẫn còn cao hơn xứ Bắc một bậc. Sự bại hoại ngày nay hẳn không phải không có nguồn gốc. Cụ Phạm nhận định những nghi lễ tuy có phiền hà song phải gi ữ bởi đó là Hồn. Tiếc thay Hồn ấy ở đâu bây giờ.

Như nhiều người đến Huế, không thể không thăm các lăng. Ngày ấy các cụ đi thuyền từ nửa đêm và về lại cũng đến nửa đêm hôm sau. Thăm lần lượt Thiên Thụ lăng, Hiếu lăng, Xương lăng và Khiêm lăng. Cái cách rất hay này nay không thấy? Để cảm nhận được bước chân lịch sử từ thực thô sơ đến hư Văn mỹ.
Rồi mặc dù khó khăn thời ấy, cụ Phạm cũng thăm Đại Nội, với cửu đỉnh Cao Nhân Chương Anh Nghị Thuần Tuyên Dụ Huyền.

Thật hay, cuối cùng cụ thăm Thiên Mụ. Và gặp gỡ con người. Đạm Phương nữ sĩ. Một cao tăng chùa Ba La Mật.



Thực là, đọc cổ càng thêm hoài cổ. Vì thực là, dân tộc tuột dốc không phanh.


- Posted using BlogPress from my iPad

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Home coming

Về nhà

Tôi đã trở về,
tôi đã bước vào dưới vòm cổng và đang nhìn quanh.

Đây là mảnh sân ngày xưa của cha tôi.
Vũng nước ở chính giữa.
Những đồ vật cũ kỹ vô dụng chất đống lên nhau làm choán hết những bậc cầu thang lên tầng gác.
Con mèo lấp ló sau dãy lan can.
Một miếng giẻ rách, trước kia đã có lần cuộn quanh một cây gậy trong một trò chơi, bây giờ đang phất phơ trong gió.

Tôi đã về đến nhà.
Ai sẽ ra đón tôi?
Ai đang đợi sau cánh cửa bếp?
Khói đang bốc lên từ ống khói, cà phê đang được pha cho bữa ăn tối.
Mi có cảm thấy thân thuộc, thoải mái như đang ở nhà của mình không?

Tôi không biết,
tôi cảm thấy rất bối rối.

Đây là nhà của cha tôi,
nhưng mỗi đồ vật đều đứng lạnh lùng bên cạnh một đồ vật khác, như thể nó chỉ chăm chú vào những chuyện của riêng nó, những chuyện có phần tôi đã quên, có phần tôi chưa hề biết đến.
Tôi có ích lợi gì cho chúng, có ý nghĩa gì đối với chúng,
dù ngay cả khi tôi là đứa con trai của cha tôi, người nông dân già nua?
Và tôi không dám gõ lên cửa nhà bếp, tôi chỉ lắng nghe từ một khoảng cách, đứng thẳng lưng, với một dáng điệu nghiêm chỉnh để khỏi bất ngờ bị xem là một tên nghe lén.
Và bởi tôi đang lắng nghe từ một khoảng cách, tôi không nghe gì cả ngoài tiếng tích tắc mơ hồ của chiếc đồng hồ treo tường vọng lại từ những ngày thơ ấu,
nhưng có lẽ tôi chỉ nghe trong ý nghĩ.
Bất cứ điều gì khác đang xảy ra trong bếp là bí mật của những ai đang ngồi ở đó, một bí mật họ che giấu trước tôi.
Càng ngần ngừ trước cửa lâu chừng nào, tôi càng trở nên xa lạ chừng ấy.
Điều gì sẽ xảy ra nếu bây giờ có ai mở cửa và hỏi tôi một câu?
Chẳng phải chính tôi lúc ấy sẽ ứng xử như một kẻ muốn giữ bí mật của riêng mình hay sao?

(Franz Kafka)

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Vừa ăn cơm vừa tập thể dục

Hehe, nghe cứ như "vừa đi đường vừa kể chuyện" í.
Cơ nhưng mà, vừa đi đường vừa kể chuyện thì vui mà quên mệt. Chứ không như mình, vừa ăn cơm lại vừa chạy hết tốc lực.
Ôi trời, nghe đã thấy bao tử thắt lại ...

Chả là đầu đuôi thế này:
Hơn 7h tối, mình ghé ăn cơm trước khi về nhà. Ngồi ngay cửa quán, nhìn ra ngoài.
Đang ăn gần hết đĩa cơm thì một gã, thản nhiên, ngay trước mặt mình, quay cái xe đạp của mình lại. Vừa kịp nghĩ, hắn sắp xếp xe lại làm gì? thì hắn, thản nhiên, ngồi lên yên xe và ... đạp đi.
Cũng nhanh, mình phóng ngay ra đường và la làng. Thực tình, giờ này, mình không biết lúc đó mình la như thế nào. Chuyện này xưa nay chỉ xảy ra với mình trong các cơn mê mệt mỏi, trong đó kêu không thành tiếng và chạy thì không nhấc nổi một bước chân.
Hôm qua, mình chạy được, nhưng không đuổi kịp. Khi bóng gã ăn trộm khuất sau con hẻm thì bụng mình bỗng thắt lại. Tý nữa thì khụy gối xuống đường, đành đứng lại trong bất lực.
Những người chạy ra đường sau tiếng la của mình cũng chỉ biết nhìn theo. Thoáng thấy hai người chở nhau trên một chiếc xe máy phóng theo. Nhiều người hỏi, có người chạy xe máy đuổi à? Mình nói không biết. Có người nói, chắc là đồng bọn thằng ăn trộm. Mình nghĩ bụng, chắc vậy.
Đành quay lại quán. Mọi người, có người mới đến quán, xúm lại bàn tán. Định bụng, ăn nốt cơm rồi đi bộ về thôi. Bỗng thấy hai cô bé, chỉ tầm học sinh hay sinh viên, chở nhau trên một chiếc xe máy và kéo theo chiếc xe đạp của mình, dừng lại trước quán.
Mừng húm chạy ra. Hai cô bé hỏi sao chú không chạy tới lấy xe? Bảo, thấy nó chạy khuất, tưởng chịu mất. Nói, tụi con la làng, thấy đường có người, hắn vứt xe vứt dép chạy. Cũng không ai đuổi nữa, thấy chú không tới, tụi con kéo xe về.
Chủ quán vội cảm ơn. Một ông trung niên chạy ra xua hai cô bé, đi đi. Mình vừa kịp nói câu cảm ơn thì hai cô bé cũng phóng xe đi luôn. Ông kia nói nhỏ: coi chừng nó quay lại trả thù hai cô bé.
Mình nghĩ bụng, làm gì đến nỗi thế, chỉ là thằng ăn cắp vặt thôi mà. Bỗng thấy xấu hổ, mới cách ít phút, mình còn nghĩ xấu về hai cô bé lạ mặt. Có lẽ, cùng với tuổi đến trên đầu, sự hèn nhát cũng đến trong tim!
Biết ơn hai em, vì điều hai em giành lại được còn hơn một chiếc xe đạp.
Có anh khách vui tính trong quán hỏi, nếu lúc ấy chú mà đuổi kịp thì phải biết, nhỉ. Mình trả lời, đuổi kịp thì cũng đến lấy lại xe thôi, chứ biết làm gì nó?

Than ôi, công cuộc cách mạng xanh của mình, sao mà nhiều trắc trở? Đã hai đồng chí xe đạp hy sinh rồi, hiểm nguy vẫn không thôi rình rập.

Báo hại, hôm nay đi làm lại sau mấy ngày nghỉ, việc ngập đầu mà bụng thì cứ đau thắt. May ngày đầu tháng âm lịch, trưa mấy anh em chẳng có lựa chọn nào hơn cơm chay.
Cho nó lành.

Có lành không?
Tối về phải làm liền hai cái xúc xích bò, hehe.

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Mất nơi ở


Bức hình này có tên

A rose made of galaxies

This image of a pair of interacting galaxies called Arp 273 was released to celebrate the 21st anniversary of the launch of the NASA/ESA Hubble Space Telescope. The distorted shape of the larger of the two galaxies shows signs of tidal interactions with the smaller of the two. It is thought that the smaller galaxy has actually passed through the larger one. Credit: NASA, ESA and the Hubble Heritage Team (STScI/AURA).



***



Ì ạch mãi mới đọc xong Mất nơi ở của Phạm Văn Ký.
Ấy nói vậy, bởi có bạn, nếu tình cờ một mai đọc được sách này, lại bảo, hợp. Hehe.

Sách là sách được tặng (có ý gì không ta?).
Lâu thật là lâu rồi, mà đọc mãi không quá nửa.
Nói dày thì không phải quá dày. Nhưng đặc những chữ. Và đặc những chuyện.

Chuyện mất nơi ở.

Mà nào chỉ nơi ở. Chữ hơn một tý, mình nghĩ phải nói là mất chốn dung thân.

Câu chuyện nước Nhật những năm cuối thế kỷ 19. Bối cảnh là một công trường xây dựng đường sắt.
Là tín đồ phim cao bồi viễn tây, mình nhắm mắt lại là tưởng tượng ra cảnh công trường nhiều phần thô sơ này. Và cứ, nơi nào xuất hiện công trường kiểu này, là mang đến sự xâm thực văn minh nặng nề vào chốn hoang dã.
Bối cảnh nước Nhật, nhẽ còn nặng nề hơn. Cùng với quyết tâm duy tân của Nhật hoàng Minh Trị, nước Nhật chấp nhận sự hiện diện của những người da trắng trong vai trò như những người thầy.
Cuộc duy tân đã đưa nước Nhật lên vị thế hùng cường. Biết bao người thán phục. Nhưng có lẽ không nhiều người đặt câu hỏi, nước Nhật đã chịu đựng những gì trong cuộc thay da đổi thịt, chắc vô cùng đau đớn ấy?
Nhiều dân tộc láng giềng đã chọn con đường nhắm mắt bịt tai quyết không học.
Nước Nhật cũng bị giằng xé bởi những người dân nghèo hoàn toàn không ý thức, và một phần tầng lớp quý tộc cũ, kiên quyết đến quá khích bảo vệ hệ tư tưởng, hay bảo vệ quyền lợi ích kỷ.

Nhân vật chính, đại úy Hizen, đã chiến đấu và mất đi tất cả.
Thuộc tầng lớp quý tộc, ông từ bỏ những thanh gươm của mình để theo Nhật hoàng duy tân.
Người ta nhìn thấy cuộc chiến đấu vô vọng của ông chống lại bạn bè cũ, những chiến binh không chấp nhận thay đổi. Không nói về lòng quả cảm hay kỹ thuật chiến đấu tinh nhuệ, chính hệ tư tưởng của những con người cao thượng dám tự mổ bụng khi thua đã chế ngự dân trí và cả một phần những kẻ bên kia chiến tuyến như đại úy Hizen.
Nhưng, những chiến binh đó cũng vô vọng, khi đa số, gồm cả người đứng đầu, Nhật hoàng, đã chọn lựa. Và những kẻ thù đến từ phương Tây lại tỏ ra quá mạnh.
Dù sao, những chiến binh chống đối đã chết như họ đã sống. Đại úy Hizen mất hết.
Vì ông đã không dứt khoát.
Như hệ tư tưởng Tây phương. Như những người chọn truyền thống. Như đức vua mà ông phục vụ.
Đại úy Hizen luôn lưỡng lự.
Ông thất bại trước chiến binh chống đối. Ông nhục nhã trước những người Anh và người Pháp. Vợ ông ngoại tình với người da trắng. Con gái ông chọn kẻ thù của ông. Con trai ông chọn đạo của những người phương Tây. Cuối cùng, đức vua của ông phải chối bỏ ông.

Số phận đại úy Hizen không phải là số phận nước Nhật. Số phận ông chỉ là nhát cắt. Đau đớn và trở thành quá khứ của những vết sẹo.



Thực ra mình vô cùng thắc mắc. Cuốn sách mình đọc dịch từ nguyên bản tiếng Pháp, tác giả là một người Việt Nam, sinh ra và mất đi trong thế kỷ 20.
Phạm Văn Ký dựa vào nguồn tư liệu nào để viết về một nước Nhật cuối thế kỷ 19?
Lắm khi tự nghĩ, có chăng một đại úy Hizen-người-Nhật-đầy-mâu-thuẫn? Hay đó đơn giản là một người Việt?

Tư liệu nói rằng, Phạm Văn Ký là một người cô đơn, nhiều nỗi buồn và buồn hơn vì không chia sẻ được. Là một cây đại thụ của nền văn học thời của mình nhưng ông không được nhiều người biết đến. Có chăng, chỉ như là người anh của nhà thơ Phạm Hổ và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ.

Hẳn không phải ngẫu nhiên khi ông chọn tiếng Pháp cho những sáng tác sau này của mình?

Mình đã phải thật cố gắng mới đọc hết Mất nơi ở. Bây giờ mình hầu như lại quên hết. Còn chăng, đồng cảm với nhà văn.

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2011

Văn lạ

Trước tiên không thể không nói, "lạ" không còn là lạ.
Khi đã nhan nhản, ngày này tháng khác năm kia, trên khắp những tàu lá cải bày đầy chợ Vẹt trên dưới lề nọ lề kia.
Những con sâu vẫn cần mẫn tạo vết trên lá cải theo vệt mỡ ai kia bôi sẵn từ thời "vi quân vi thần". Thuốc trừ sâu đẫm những lá "rau không sạch" chỉ trừ chết người mà lại thêm nuôi béo lũ bọ nhung nhúc ngày một "biến đổi gen" dị dạng.

***

Tôi không buồn "lạ".
Tôi chỉ tìm Văn.

***

Hãy xem đám vẹt lũ sâu nhìn thấy những gì:

Bài văn lạ xôn xao Hải Phòng
Hơn một tuần nay, học sinh, phụ huynh và nhiều người dân đất cảng chuyền tay nhau bản photo bài làm môn văn của một nữ sinh lớp 12 tại cuộc thi thử vào đại học tại trường THPT Năng khiếu Trần Phú, Hải Phòng.

Bài dài hơn 2.800 chữ, tràn kín 10 trang giấy thi. Bài văn lạ này bị điểm 0 (không), bởi người viếtkể lại câu chuyện của một cô bạn thân tuổi học trò yêu thầy giáo dạy mình. Bài văn đặc tả tình cảm thầy trò quá mức cho phép, thậm chí trái với đạo đức thầy, trò... gây hiếu kỳ cho nhiều người.

Bài văn có những câu: “Mười tám tuổi, lần đầu tiên tôi được một người đàn ông ôm, trong lòng tôi trào lên một cảm xúc rạo rực”. Nữ sinh này viết về kết cục của cái đêm yêu thầy kể trên là: “Hai tháng sau, cái bụng tôi ấm ách, tôi có thai...”.


.
.
.

Còn đây là bài văn đó:


***

Xưa nói "văn là người".
Giờ mới biết "đọc văn cũng là người" vậy.

***

Sâu lá cải (cố tình) không đọc thấy số phận con người "sinh ra nhằm buổi gian nan, lớn lên gặp thời khó nhọc".

Không nhìn thấy hủ tục "môn đăng hộ đối" trong những cuộc hôn phối ít-chữ-lắm-tiền với ít-tiền-nhiều-chữ dường như chỉ sinh ra gen-trội không-tiền-chẳng-chữ.

***

Không thấy Văn.

Không thấy Người.

Dĩ nhiên không thấy sự phẫn uất. Không thấy sự cùng cực.



Và không thấy sự phản kháng của một học sinh trong "cơn đại loạn thi thử" của bộ học nước nhà.

...
...
...